Giải pháp y tế số cho bệnh viện và phòng khám

Gần 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Hoa Kỳ được dự báo sẽ được chi cho chi phí chăm sóc sức khỏe vào năm 2032. Để dễ hình dung, quy mô này tương đương với nền kinh tế của cả một quốc gia như Nhật Bản hoặc Ấn Độ. Và khi một phần lớn thế hệ Baby Boomer vẫn chưa bước vào độ tuổi được hưởng Medicare, riêng chi phí này được dự báo sẽ tăng lên hơn 7 nghìn tỷ USD vào năm 2031.
Một phần nguyên nhân của mức chi phí rất cao này là bởi hệ thống y tế vốn rất phức tạp. Sự phân mảnh, áp lực chi phí ngày càng lớn và các quy định liên tục thay đổi đang tạo ra thách thức cho tất cả các bên liên quan, bao gồm quỹ bảo hiểm, người bệnh, đối tác và cơ sở cung cấp dịch vụ y tế. Trong bối cảnh đó, số lượng hồ sơ yêu cầu thanh toán ngày càng tăng, khiến tình trạng thanh toán hồ sơ sai hoặc không phù hợp tiếp tục gia tăng và chưa có dấu hiệu chững lại. Thực tế, trong năm 2025, chương trình Comprehensive Error Rate Testing – CERT (chương trình đánh giá toàn diện tỷ lệ sai sót thanh toán) ghi nhận tỷ lệ thanh toán sai ở mức 6,55%. Điều này tương đương khoảng 400 tỷ USD lãng phí mỗi năm chỉ riêng trong Medicare và Medicaid.
Một hệ quả khác của bức tranh chi phí này là medical loss ratio – MLR (tỷ lệ chi phí y tế trên doanh thu phí bảo hiểm) và administrative loss ratio – ALR (tỷ lệ chi phí quản trị/vận hành) của các tổ chức bảo hiểm y tế đều đang tăng lên cùng lúc. Theo Affordable Care Act, MLR thường được yêu cầu ở mức khoảng 80–85%. Tuy nhiên, do chi phí khám chữa bệnh tăng, thay đổi về quy định và nhiều yếu tố khác, các doanh nghiệp bảo hiểm y tế lớn đang ghi nhận MLR tăng lên trung bình 88%, trong khi nhiều đơn vị nhỏ và tầm trung còn ở mức cao hơn. ALR hiện dao động trong khoảng 11–13%. Kết quả là biên lợi nhuận còn lại rất mỏng, và quản trị tổng chi phí trở thành mục tiêu ưu tiên hàng đầu của hầu hết các đơn vị chi trả.
Payment integrity (đảm bảo tính chính xác, hợp lệ và minh bạch trong thanh toán) có thể xem là một trong những đòn bẩy quản trị tổng chi phí mạnh nhất đối với các tổ chức bảo hiểm y tế. Muốn làm được điều đó, các đơn vị chi trả cần xây dựng các chương trình payment integrity có khả năng mở rộng quy mô, thích ứng với độ phức tạp ngày càng cao và tận dụng công nghệ để tự động hóa ở những khâu phù hợp, trong khi vẫn bảo đảm hoạt động rà soát chuyên môn của con người được thực hiện hiệu quả nhất có thể.
Để xây dựng năng lực payment integrity có khả năng thích ứng với tương lai, tổ chức cần một hệ sinh thái kết nối hoàn chỉnh, với công nghệ và logic nghiệp vụ phù hợp, cho phép:
Hệ sinh thái kết nối này phụ thuộc rất lớn vào điều phối dữ liệu và việc sử dụng AI (trí tuệ nhân tạo) một cách có trách nhiệm, nhằm chuyển từ cách tiếp cận “phản ứng khi vấn đề xảy ra” sang “ngăn ngừa vấn đề ngay từ đầu”, đồng thời tối đa hóa cả tiết kiệm chi phí y tế và tiết kiệm chi phí hành chính.
Trong tài liệu này, Cotiviti cho biết họ sẽ đi qua các nhóm thách thức hiện tại liên quan đến sai sót, lãng phí và lạm dụng; những điểm nghẽn phổ biến trong hoạt động payment integrity; cũng như các giải pháp trọng yếu để tiến tới một hệ thống toàn diện hơn, kết nối prepay và postpay xuyên suốt toàn bộ chu trình thanh toán hồ sơ yêu cầu chi trả.
Hệ thống thanh toán y tế hiện tại có rất nhiều cấu phần vận hành cùng lúc. Có nhiều mô hình thanh toán khác nhau như:
Bên cạnh đó, dịch vụ chăm sóc sức khỏe diễn ra tại rất nhiều môi trường khác nhau, từ phòng khám ban đầu, nha khoa, khoa cấp cứu, điều trị nội trú, ngoại trú đến các cơ sở điều dưỡng chuyên môn. Đồng thời, cũng có rất nhiều loại đơn vị trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ, như bác sĩ, nha sĩ, phòng xét nghiệm, đơn vị cung cấp thiết bị y tế, nhà thuốc. Mỗi cơ sở hay đơn vị này lại gửi các hồ sơ yêu cầu thanh toán riêng về cho bên chi trả.
Quy trình chu trình doanh thu/thanh toán bao gồm nhiều hệ thống khác nhau và thường bị tách rời, từ kiểm tra điều kiện hưởng quyền lợi, phê duyệt trước, lập hóa đơn, điều phối hồ sơ, xét duyệt thanh toán cho đến thanh toán điện tử. Chính hệ thống chồng chéo và phức tạp này tạo ra môi trường dễ phát sinh sai sót, lãng phí, lạm dụng và thậm chí cả gian lận, với các tình huống điển hình như:
Khả năng phát sinh hồ sơ sai gần như là vô hạn. Việc một hệ thống payment integrity nên can thiệp ở giai đoạn nào và bằng cách nào trong chu trình này sẽ khác nhau đáng kể tùy theo từng kịch bản hồ sơ. Dù phương thức thanh toán, độ phức tạp của trình tự xử lý hồ sơ, định giá lại hay điều khoản hợp đồng với nhà cung cấp có thể khiến một số trường hợp vẫn cần hậu kiểm, Cotiviti ước tính rằng các bên chi trả có thể dịch chuyển tối đa 70% hoạt động payment integrity sang trước thanh toán, trong khi vẫn duy trì khả năng phát hiện đáng kể các khoản chi trả vượt mức thông qua hậu kiểm và thu hồi.
Tuy nhiên, việc dịch chuyển đó không hề đơn giản. Một số thách thức chính bao gồm:
Các khoảng trống trong việc tích hợp quy trình rà soát hồ sơ và việc dữ liệu chưa đầy đủ được gửi tới nhiều giải pháp payment integrity khác nhau đang cản trở nghiêm trọng khả năng mở rộng hoạt động payment integrity vượt ra ngoài kiểm toán và thu hồi hậu kiểm hoặc chỉnh sửa hồ sơ cơ bản. Chẳng hạn, chỉ cần thiếu một vài trường dữ liệu nội trú quan trọng trong file prepay, khả năng phát hiện hồ sơ sai đã có thể bị hạn chế đáng kể.
Nhiều đơn vị chi trả có thể bỏ lỡ các cơ hội kiểm soát chi phí quan trọng vì các hoạt động này đòi hỏi phải được duy trì thường xuyên, có giám sát lâm sàng và có kết nối công nghệ mạnh. Ví dụ:
Tất cả những điều này đều cần năng lực chuyên môn và nền tảng công nghệ tương ứng.
Dù các cơ chế can thiệp tự động có thể xử lý một phần lớn sai sót và lãng phí, vẫn luôn cần đến con người để phát hiện những sai lệch tinh vi hoặc các dấu hiệu lạm dụng mà tự động hóa không thể nhận diện đầy đủ, như một số vấn đề COB, việc lạm dụng modifier hoặc các nhà cung cấp có hành vi bất thường. Nhiều hồ sơ nội trú, và cả một số hồ sơ chuyên môn hoặc ngoại trú, không thể được kết luận nếu không dùng thêm bệnh án để xác thực. Trong khi đó, hầu hết các đơn vị chi trả không đủ nhân sự có kỹ năng và kiến thức lâm sàng cần thiết để rà soát khối lượng hồ sơ lớn ở mức chuyên sâu.
Nhiều tổ chức đã bắt đầu đầu tư để dịch chuyển can thiệp sang sớm hơn và đẩy mạnh prepay, nhưng sự tách rời giữa các nỗ lực này với mô hình postpay truyền thống lại tạo ra thêm một thách thức khác. Thay vì tận dụng kết quả hậu kiểm để lấp khoảng trống trên toàn chu trình, các hoạt động vẫn bị chia cắt, làm gia tăng sự phức tạp và gây thêm khó khăn trong vận hành.
Việc loại bỏ các điểm ma sát trên đòi hỏi một cách tiếp cận mới: tích hợp quy trình prepay và postpay, áp dụng phân tích nâng cao, và có sự phối hợp chiến lược với chuyên gia lâm sàng để ngăn ngừa thất thoát trước khi nó xảy ra.
Các tổ chức bảo hiểm cần những giải pháp vừa tối đa hóa giá trị ngay ở hiện tại, từ prepay đến postpay được kết nối, vừa chuẩn bị nền tảng cho tăng trưởng trong tương lai. Tuy nhiên, ngay cả khi tổ chức vượt qua được các thách thức kỹ thuật và lâm sàng, việc chuyển từ hậu kiểm để thu hồi sang ngăn ngừa trước thanh toán vẫn có thể phát sinh vấn đề — hoặc là gây áp lực prepay quá mạnh quá sớm, làm xói mòn quan hệ với các nhà cung cấp giá trị cao, hoặc là đi quá chậm khiến khoản tiết kiệm bị trì hoãn.
Một cách tiếp cận thông minh hơn là cân bằng nhiều loại hình can thiệp, bao gồm:
Cotiviti đưa ra một số ví dụ về hồ sơ tái nhập viện không phù hợp để minh họa cho từng loại can thiệp:
Rà soát tự động có thể phát hiện sai lệch gần như theo thời gian thực để hỗ trợ ra quyết định nhanh và chính xác. Ví dụ, một bệnh nhân nhập viện nội trú từ khoa cấp cứu với chẩn đoán đợt cấp COPD, được điều trị rồi xuất viện. Mười ngày sau, bệnh nhân đó nhập lại cùng bệnh viện với cùng chẩn đoán và cùng mã DRG. Theo hướng dẫn của CMS, lần nhập viện thứ hai có thể phòng ngừa được và nên bị từ chối tự động do liên quan đến lần nhập viện trước, với điều kiện hệ thống nhận đầy đủ dữ liệu đầu vào cần thiết.
Dù hệ thống có thể áp dụng chính sách readmission tự động, việc tạm dừng và cho phép rà soát lịch sử hồ sơ có thể giúp một số tổ chức yên tâm hơn. Ví dụ, một bệnh nhân nhập viện do tai nạn xe hơi với chẩn đoán chấn động não, được điều trị rồi xuất viện. Ba ngày sau, bệnh nhân quay lại cùng bệnh viện, lần này được xác định tràn khí màng phổi qua X-quang. Sau khi rà soát lịch sử hồ sơ, người ta xác định tổn thương phổi đã có từ lần nhập viện đầu nhưng bị bỏ sót, nên lần nhập viện thứ hai được từ chối phù hợp vì có liên quan đến lần đầu tiên.
Một số hồ sơ prepay cần được bổ sung bằng việc rà soát bệnh án để có thêm ngữ cảnh. Ví dụ, chuyên viên kiểm tra nhận thấy kế hoạch xuất viện và hướng dẫn sử dụng thuốc cho bệnh nhân bị thuyên tắc phổi là không đầy đủ. Đơn thuốc Eliquis lẽ ra phải bắt đầu ngay ngày xuất viện của đợt điều trị đầu tiên, nhưng lại được chỉ định dùng sau một tuần, gây gián đoạn điều trị. Do bệnh nhân không được điều trị đầy đủ sau xuất viện và quay lại với cùng triệu chứng trong lần nhập viện kế tiếp, hồ sơ readmission được từ chối một cách phù hợp.
Nhiều hạng mục rà soát vốn trước đây chỉ xử lý ở postpay nay có thể được cân nhắc chuyển sang prepay. Đầu năm 2025, Cotiviti thực hiện một rà soát toàn diện các khái niệm khai phá dữ liệu hậu kiểm liên quan đến 2,5 tỷ USD giá trị phát hiện kiểm toán tích cực hằng năm, sau đó đối chiếu các phát hiện này với dữ liệu prepay chưa xét duyệt để đánh giá khả năng dịch chuyển nội dung can thiệp sang giai đoạn sớm hơn trong chu trình thanh toán. Các yếu tố như định giá lại, tuân thủ hợp đồng, diễn giải chính sách hoàn trả, rà soát hệ thống xét duyệt phức tạp theo từng khách hàng và các cân nhắc vận hành khác đều được đưa vào đánh giá.
Kết quả rất đáng chú ý. Theo dữ liệu của Cotiviti:
Cuối cùng, cách tiếp cận kết hợp prepay và postpay có thể giúp tăng tổng số tiền tiết kiệm từ các khoản thanh toán sai lên tới 37%, nhờ tỷ lệ chuyển đổi tốt hơn và khả năng phát hiện cao hơn trong giai đoạn prepay. Ngoài việc tăng khả năng thu hồi, các tổ chức còn có thể giảm ma sát với nhà cung cấp và giảm chi phí hành chính do tránh được các quy trình đòi hoàn, offset, gửi thư, yêu cầu lập hóa đơn lại, xử lý lại hồ sơ hay trao đổi qua lại nhiều lần. Giá trị mang lại cũng đến sớm hơn vì khoản chi trả vượt mức được phát hiện trước khi thanh toán, thay vì phải chờ 120 ngày hoặc lâu hơn sau thanh toán.
Việc kết nối prepay với postpay đòi hỏi sự đồng bộ, với dữ liệu sạch và hệ thống dùng chung thông tin một cách xuyên suốt. Các nền tảng được kết nối, sử dụng trao đổi dữ liệu thời gian thực và tự động hóa có khả năng mở rộng)sẽ giúp phát hiện sớm hơn, chỉnh sửa chính xác hơn và chuyển tiếp mượt mà giữa luồng công việc prepay và postpay.
Để xây dựng được hệ sinh thái này, các khoảng trống về dữ liệu và kỹ thuật phải được xử lý. Ví dụ:
Một hệ thống prepay–postpay được kết nối tốt cũng phải tích hợp việc sử dụng AI một cách hiệu quả và có trách nhiệm. AI giúp nâng cao năng lực bằng cách nhận diện mẫu hình tốt hơn, tóm tắt hồ sơ y khoa phức tạp và hỗ trợ ra quyết định liên quan đến hồ sơ và chính sách. Tuy nhiên, AI chỉ là công cụ, không phải là lời giải trọn gói. Trong y tế, AI không nên thay thế chuyên môn của con người. Các tổ chức cần giới hạn tự động hóa AI một cách chiến lược, nhằm hỗ trợ chuyên gia nâng cao hiệu suất và kết quả, chứ không thay thế ra quyết định lâm sàng hay phán đoán chuyên môn. Tổ chức có thể dùng AI để hỗ trợ chuẩn bị nội dung lâm sàng, nhưng không nên để AI tự đưa ra quyết định dựa trên nội dung đó.
Khi hệ thống prepay–postpay kết nối được triển khai với công nghệ phù hợp, điều phối dữ liệu tốt, cơ cấu can thiệp hợp lý và AI được sử dụng có trách nhiệm, Cotiviti tin rằng tổ chức có thể kỳ vọng 70% hoặc hơn chương trình payment integrity vận hành ở chế độ prepay, trong khi 30% còn lại ở postpay sẽ tập trung vào các tình huống khó nhất như thay đổi dữ liệu hồi tố, trình tự xử lý và định giá lại, loại trừ riêng theo nhà cung cấp hoặc giới hạn liên quan đến phê duyệt trước.
Một hệ thống payment integrity kết nối không chỉ giúp giảm chi phí y tế mà còn giúp giảm chi phí hành chính. Dù postpay vẫn cần thiết để phát hiện một phần các khoản chi không phù hợp, các tổ chức chi trả thường chỉ có thể thu hồi được 60–70% số tiền đã chi sai. Nguyên nhân là do công việc hành chính cần thiết để truyền đạt kết luận và thu hồi các khoản thanh toán vượt mức vừa tốn kém vừa kém hiệu quả cho cả bên chi trả lẫn bên cung cấp dịch vụ. Chi phí thu hồi cho mỗi hồ sơ chi trả sai được ước tính có thể vượt 25 USD/hồ sơ, khiến nhiều đơn vị khó có thể thu hồi các khoản chi sai có giá trị nhỏ và làm giảm thêm 10–20% giá trị thu hồi thực tế.
Bằng cách phát hiện vấn đề sớm hơn, tỷ lệ bắt lỗi và tỷ lệ chuyển đổi sẽ cao hơn, từ đó trực tiếp giảm chi phí y tế và giúp ổn định MLR đang gia tăng. Đồng thời, công việc hành chính cũng hiệu quả hơn đáng kể, với ít điều chỉnh hồi tố hơn và ít trao đổi qua lại với nhà cung cấp hơn. Hiệu ứng kết hợp này tạo ra một cấu trúc chi phí ổn định, dễ dự báo và bền vững hơn cho toàn tổ chức.
Khi một hệ thống prepay và postpay thực sự được kết nối, điều gì sẽ đến tiếp theo? Câu trả lời là: can thiệp sớm hơn trong quy trình thanh toán hồ sơ sẽ là chìa khóa cho tương lai của payment integrity. Các biện pháp can thiệp trước xét duyệt hoặc chủ động phòng ngừa từ sớm sẽ hoàn thiện bức tranh tổng thể và giúp giảm đáng kể chi phí hành chính cho cả đơn vị chi trả và đơn vị cung cấp dịch vụ, nhờ tạo ra các hồ sơ yêu cầu thanh toán sạch hơn, ít sai sót hơn ngay từ đầu.
Các bên chi trả nên chuyển từ những điểm chạm dọc, rời rạc sang một chuỗi liên tục các điểm can thiệp, với mục tiêu:
Việc kết hợp phân tích nâng cao như machine learning (học máy) và AI với điều phối dữ liệu mạnh mẽ sẽ mở ra cơ hội lớn cho việc mở rộng quy mô kiểm toán thanh toán và giảm MLR cũng như ALR. Điều quan trọng là phải kết hợp đổi mới công nghệ với năng lực chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn để lấp các khoảng trống, củng cố quan hệ với nhà cung cấp và duy trì độ tin cậy cao đối với tính chính xác cũng như khả năng bảo vệ về mặt nghiệp vụ/pháp lý của các can thiệp sớm.
Sau cùng, payment integrity sẵn sàng cho tương lai là việc tạo ra một chu trình thanh toán hồ sơ sạch hơn, kết nối hơn và minh bạch hơn. Những tổ chức đầu tư vào cách tiếp cận toàn diện và kết nối này sẽ có vị thế tốt hơn để thích ứng, phát triển và dẫn dắt khi bối cảnh y tế tiếp tục thay đổi.